Giáo Dục

Bài soạn lớp 6: Cậu bé thông minh

Hướng dẫn soạn bài: Cậu bé thông minh – Trang 70 sgk ngữ văn 6 tập 1. Tất cả các câu hỏi trong bài học đều được trả lời rành mạch và dễ hiểu. Với cách soạn sau, các em học sinh sẽ nắm tốt nội dung bài học. Ngoài ra, nếu có câu hỏi nào, các em comment phía dưới để thầy cô giải đáp.

Câu trả lời:

Tìm hiểu chung tác phẩm

  • Thể loại: Truyện cổ tích
  • Bố cục: 4 phần
    • Phần 1: Từ đầu đến “về tâu vua”: Em bé giải được câu đố của quan.
    • Phần 2: Tiếp đến “ăn mừng với nhau rồi”: Em bé giải được câu đố của vua.
    • Phần 3: Tiếp đến “ban thưởng rất hậu”: Em bé giải được câu đố của vua.
    • Phần 4: Còn lại: Em bé giải được câu đố của sứ thần.

Câu 1: Hình thức câu đố để thử tài nhân vật có phổ biến …

Hình thức câu đố để thử tài nhân vật có phổ biến trong truyện cổ tích hay không? Tác dụng của hình thức này?

Trả lời:

  • Hình thức dùng câu đố để thử tài nhân vật là rất phổ biến trong các câu chuyện cổ tích dân gian từ xưa đến nay.
  • Tác dụng của hình thức này:
    • Tạo ra thử thách để nhân vật bộc lộ tài năng, phẩm chất.
    • Tạo tình huống cho cốt truyện phát triển.
    • Gây hứng thú, hồi hộp cho người nghe.

Câu 2: Sự mưu trí thông minh của em bé được thử thách …

Sự mưu trí thông minh của em bé được thử thách qua mấy lần? Lần sau có khó hơn lần trước không? Vì sao?

Trả lời:

  • Sự mưu trí thông mình của cậu bé được thử thách qua 4 lần.
    • Lần 1: Trâu cày  ngày mấy đường
    • Lần 2: Ba trâu đực đẻ thành chín con
    • Lần 3: Một con chim sẻ làm ba mâm cỗ
    • Lần 4: Xâu chỉ qua ruột con ốc vặn.
  • Cậu bé thông minh đã lần lượt trải qua những thử thách theo cấp độ khó tăng dần, yêu cầu, đòi hỏi cậu bé phải suy nghĩ, dùng trí để giải quyết vấn đề, giải những bài toán thực tế hóc búa.
    • Lần thứ nhất: là lời đố của viên quan chỉ liên quan đến hai bố con.
    • Lần thứ hai: lời đố của nhà vua liên quan đến cả dân làng.
    • Lần thứ ba: cũng là của vua, có mục đích khẳng định thực tài của cậu bé.
    • Lần thứ tư: là câu đó của viên sứ thần, nó không chỉ là thách đố với bản thân mà còn danh dự của cả dân tộc.

=> Qua đó người đọc càng ngày càng thấy rõ được sự thông minh, nhanh nhạy của cậu bé, một tài năng xuất chúng.

Câu 3: Trong mỗi lần thử thách, em bé đã dùng những cách gì …

Trong mỗi lần thử thách, em bé đã dùng những cách gì để giải những câu đố oái oăm? Theo em, những cách ấy lí thú ở chỗ nào?

Trả lời:

  • Trong mỗi lần thử thách, em bé đã dùng những cách khác nhau để giải những câu đố của quan:
    • Lần thứ nhất: Cậu bé giải câu đố bằng cách đố lại : Ngựa một ngày đi mấy bước => Quan bí
    • Lần thứ hai: Cậu bé giải câu đố bằng đóng kịch, trách cha không đẻ em bé để cho vua tự nói điều phi lý. Cậu bé dùng lý lẽ của vua (giống đực không đẻ) để bác ý vua (cần lưu ý trước đó cậu bé đã hiểu ý vua. Khi cho trâu kèm với thúng nếp, trâu ăn cỏ chứ không ăn lúa nếp).
    • Lần thứ ba: Cậu bé giải thích câu đố bằng cách đố lại : yêu cầu vua rèn cái kim may thành dao để làm thịt con chim sẻ dọn thành ba cỗ thức ăn.
    • Lần thứ tư: Em bé thông minh đã nhớ và vận dụng kinh nghiệm dân gian của các cụ ngày xưa để lại: “ quan thấy kiện như kiến thấy mỡ”. Em bé đã dùng kinh nghiệm ấy buộc sợi chỉ vào mình kiến bôi mỡ một đầu rồi để kiến bò sang.
  • Những cách lý giải của em bé thông minh rất hóm hỉnh, lý thú ở chỗ:
    • Lần 1: Đẩy thế bị động sang cho người đố
    • Lần 2: Đưa người đố vào bẫy tự nói ra điều phi lí
    • Lần 3: Lấy “gậy ông đập lưng ông”.
    • Lần 4: Kinh nghiệm đời sống dân gian.

Câu 4: Hãy nêu ý nghĩa của truyện Em bé thông minh?

Trả lời:

Ý nghĩa của truyện Em bé thông minh là:

  • Truyện đề cao sự thông minh và trí khôn dân gian (qua hình thức giải những câu đố, vượt qua những thử thách đố oái ăm,….)
  • Tạo nên tiếng cười vui vẻ, hồn nhiên trong đời sống hằng ngày.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button
You cannot copy content of this page