Biểu Mẫu

Báo cáo kết quả rà soát văn bản quy phạm pháp luật

Big Data VN xin giới thiệu tới các bạn Báo cáo kết quả rà soát văn bản quy phạm pháp luật. Đây là mẫu báo cáo lập ra vào dịp cuối năm để kiểm tra, rà soát lại các văn bản quy phạm pháp luật ban hành hoặc hết hiệu lực trong năm. Mời các bạn tham khảo.

  • Báo cáo thành tích cá nhân
  • Mẫu báo cáo kết quả công việc
  • Các báo cáo thuế hàng tháng doanh nghiệp phải nộp

1. Báo cáo kết quả rà soát văn bản quy phạm pháp luật số 1

(Các số liệu thông tin trong Báo cáo ra soát văn bản quy phạm pháp luật số 1 mang tính chất tham khảo)

ỦY BAN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ …………..

SỞ TƯ PHÁP

Số: /BC-STP-KTrVB

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập-Tự do-Hạnh phúc

……, ngày……tháng …..năm …….

BÁO CÁO
Kết quả rà soát các văn bản quy phạm pháp luật 
liên quan đến Luật Tiếp cận thông tin và Nghị định hướng dẫn thi hành

Thực hiện chỉ đạo của Ủy ban nhân dân Thành phố tại Phiếu chuyển số 5640/PC-VP ngày 03 tháng 02 năm 2018 và Phiếu chuyển số 15050/PC-VP ngày 05 tháng 4 năm 2018 của Văn phòng Ủy ban nhân dân Thành phố về việc triển khai thi hành Luật tiếp cận thông tin năm 2016 và Nghị định số 13/2018/NĐ-CP ngày 23 tháng 01 năm 2018 của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật tiếp cận thông tin theo yêu cầu của Bộ Tư pháp tại Công văn số 939/BTP-PLHSHC ngày 22 tháng 3 năm 2018 về đôn đốc việc triển khai thi hành Luật tiếp cận thông tin. Trong đó, “giao Sở Tư pháp, Sở Thông tin và Truyền thông và Sở Nội vụ triển khai theo phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn của mình và Kế hoạch ban hành kèm theo Quyết định 5812/QĐ-UBND”.

Sở Tư pháp báo cáo kết quả rà soát văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân Thành phố liên quan đến Luật Tiếp cận thông tin và Nghị định hướng dẫn thi hành như sau:

I. TỔ CHỨC THỰC HIỆN RÀ SOÁT:

1. Phạm vi, nội dung, đối tượngrà soát:

Toàn bộ các văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân Thành phố còn hiệu lực có quy định về tổ chức và hoạt động của cơ quan nhà nước và các quy định về việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền liên quan đến quyền tiếp cận thông tin của công dân.

2. Mục đích, yêu cầu rà soát:

Qua rà soát nhằm phát hiện các quy định không còn phù hợp với Luật tiếp cận thông tin năm 2016 và Nghị định số 13/2018/NĐ-CP ngày 23 tháng 01 năm 2018 của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật tiếp cận thông tin (sau đây gọi tắt là Nghị định số 13/2018/NĐ-CP), chú trọng các nội dung quy định có thể gây cản trở, giới hạn quyền tự do tiếp cận thông tin của công dân (Điều 10 của Luật tiếp cận thông tin năm 2016), từ đó, kiến nghị Ủy ban nhân dân Thành phố xem xét chỉ đạo sửa đổi, điều chỉnh, bãi bỏ cho phù hợp, đồng thời có chỉ đạo các biện pháp bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân theo quy định tại Khoản 5 Điều 35 Nghị định số 13/2018/NĐ-CP.

3. Kết quả rà soát:

Qua rà soát xác định được 87 văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến Luật tiếp cận thông tin năm 2016 và Nghị định số 13/2018/NĐ-CP, trong đó:

– Nghị quyết của Hội đồng nhân dân Thành phố: 00 văn bản.

– Quyết định của Ủy ban nhân dân Thành phố: 85 văn bản.

– Chỉ thị của Ủy ban nhân dân Thành phố: 02 văn bản.

(Đính kèm Phụ lục I)

II. ĐÁNH GIÁ CHUNG:

1. Về thuận lợi, ưu điểm:

Qua rà soát, Sở Tư pháp nhận thấy phần lớn các văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân Thành phố được ban hành trước ngày Luật tiếp cận thông tin năm 2016 và Nghị định số 13/2018/NĐ-CP được ban hành. Trong tổng số 86 văn bản thuộc đối tượng rà soát, có 24 văn bản được ban hành trong năm 2017 và 04 văn bản được ban hành trong năm 2018.

Nội dung của các văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân Thành phố không trực tiếp đề cập đến việc tiếp cận thông tin của công dân, chủ yếu quy định một số nội dung quy định chung về chế độ thông tin, báo cáo theo quy định của pháp luật, nhưng không trái với quy định của Luật Tiếp cận thông tin.

Một số văn bản quy phạm pháp luật có quy định trách nhiệm công khai trong một số lĩnh vực quản lý của cơ quan nhà nước theo quy định của pháp luật chuyên ngành (như công khai kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo; bộ thủ tục hành chính; một số nội dung về dự án đầu tư; thông tin quy hoạch; cấp phép xây dựng; đăng ký đất đai) cũng đồng thời phù hợp với quy định về thông tin phải được công khai theo Điều 17 của Luật tiếp cận thông tin.

Bên cạnh đó, một số văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân Thành phố (trong đó có nhiều văn bản được ban hành trước ngày Luật tiếp cận thông tin ra đời) đã có quy định các nội dung tăng cường trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc công khai, minh bạch thông tin đến với người dân thông qua nhiều kênh thông tin khác nhau, chú trọng xây dựng hệ thông thông tin để thực hiện tốt các biện pháp bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân (theo quy định tại Chương VI Luật tiếp cận thông tin), có thể kể đến như:

– Khoản 3 Điều 35 Quyết định số 63/2016/QĐ-UBND ngày 23 tháng 12 năm 2016 ban hành Quy chế làm việc của Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh nhiệm kỳ 2016-2021 quy định việc đăng tải văn bản hướng dẫn của các cơ quan chuyên môn, đơn vị thuộc Ủy ban nhân dân thành phố lên Công báo thành phố dù quy định pháp luật không bắt buộc; Quyết định số 51/2012/QĐ-UBND ngày 19 tháng 11 năm 2012 ban hành Quy định về việc xây dựng và công bố một số chỉ số đánh giá thị trường bất động sản trên địa bàn Thành phố; Quyết định số 21/2012/QĐ-UBND ngày 26/05/2012 ban hành Quy chế tổ chức và phối hợp hoạt động quản lý thông tin đối ngoại tại Thành phố Hồ Chí Minh có các nội dung công khai, quảng bá rộng rãi thông tin đối ngoại của Thành phố.

– Các quy định về việc thực hiện cơ chế một cửa liên thông trong một số lĩnh vực đã có quy định nội dung công khai thông tin giải quyết thủ tục hành chính cho người dân (Quyết định số 52/2017/QĐ-UBND về thí điểm cơ chế một cửa liên thông điện tử trong công tác cấp Giấy phép xây dựng; Quyết định số 36/2017/QĐ-UBND quy định về phối hợp giải quyết thủ tục giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất; đăng ký đất đai, tài sản khác gắn liền với đất; cấp, cấp đổi, cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; Quyết định 42/2016/QĐ-UBND về thực hiện liên thông thủ tục hành chính về đăng ký khai sinh, đăng ký thường trú, cấp thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 6 tuổi và đăng ký khai tử, xóa đăng ký thường trú).

– Các quy định về kiện toàn, hoàn thiện Trang Thông tin điện tử của Thành phố, Công báo Thành phố (Quyết định số 03/2018/QĐ-UBND; Quyết định số 68/2009/QĐ-UBND), chú trọng xây dựng cơ sở dữ liệu thông tin trong quản lý chuyên ngành (Quyết định số 53/2003/QĐ-UB, Quyết định số 05/2010/QĐ-UBND, Quyết định số 25/2016/QĐ-UBND, Quyết định số 43/2016/QĐ-UBND) là điều kiện quan trọng để Thành phố đảm bảo thực hiện quyền tiếp cận thông tin của công dân một cách nhanh chóng, chính xác, thống nhất, hiệu quả.

Như vậy, có thể thấy hầu hết các văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân Thành phố đều có nội dung phù hợp với quy định của Luật tiếp cận thông tin và Nghị định hướng dẫn thi hành mặc dù phần lớn được ban hành trước ngày Luật tiếp cận thông tin ra đời, có hiệu lực. Tuy nhiên, phần lớn nội dung quy định còn chung chung, chưa quy định trực tiếp đến quyền tiếp cận thông tin, không có các nội dung quy định gây cản trở, giới hạn quyền tiếp cận thông tin của công dân.

2. Một số vấn đề cần lưu ý:

2.1. Quà rà soát, Sở Tư pháp cũng phát hiện một số văn bản của Ủy ban nhân dân Thành phố đã không còn phù hợp với quy định của Luật tiếp cận thông tin và Nghị định hướng dẫn thi hành, cụ thể:

a)Khoản 1 Điều 2 của Quy chế tổ chức và hoạt động của Văn phòng Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (ban hành kèm theo Quyết định số 20/2016/QĐ-UBNDngày 09 tháng 6 năm 2016) quy định trách nhiệm của Văn phòng Ủy ban nhân dân Thành phố: “Cung cấp thông tin cho công chúng về các hoạt động chủ yếu, những quyết định quan trọng của Ủy ban nhân dân Thành phố, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố; những sự kiện kinh tế, chính trị, xã hội nổi bật được dư luận quan tâm theo quy định pháp luật và chỉ đạo của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố”.

Sở Tư pháp nhận thấy nội dung nêu trên không còn phù hợp với quy định của Luật tiếp cận thông tin. Cụ thể, tại Khoản 1 Điều 9: “Cơ quan nhà nước có trách nhiệm cung cấp thông tin do mình tạo ra, trừ trường hợp quy định tại Điều 6 của Luật này; đối với trường hợp quy định tại Điều 7 của Luật này thì cung cấp thông tin khi có đủ điều kiện” và Điểm e Khoản 2 Điều 9: “Văn phòng Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm cung cấp thông tin do Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tạo ra và thông tin do mình tạo ra”.

Đồng thời, nội dung quy định của Quyết định số 20/2016/QĐ-UBND vô hình chung đã giới hạn phạm vi cung cấp thông tin, ảnh hưởng đến quyền tiếp cận thông tin tại Điều 5: “Công dân được tiếp cận thông tin của cơ quan nhà nước, trừ thông tin không được tiếp cận quy định tại Điều 6 của Luật này; được tiếp cận có điều kiện đối với thông tin quy định tại Điều 7 của Luật này”, cũng như quy định tại Điều 17 về “Thông tin phải được công khai” và Điều 34 về “Trách nhiệm của cơ quan cung cấp thông tin trong việc bảo đảm thực hiện quyền tiếp cận thông tin”.

Ngoài ra, quy định như trên còn không đồng bộ với quy định tại Khoản 2 Điều 52 Quyết định số 63/2016/QĐ-UBND ngày 23 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban nhân dân Thành phố, theo đó, Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân Thành phố có trách nhiệm: “cung cấp thông tin đến các cơ quan thông tin đại chúng về hoạt động của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố, về tình hình kinh tế, văn hóa – xã hội, an ninh, quốc phòng, đối ngoại của thành phố theo Quyết định số 32/2013/QĐ-UBND ngày 23 tháng 8 năm 2013 của Ủy ban nhân dân thành phố về ban hành Quy chế phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh và các quy định của pháp luật về báo chí” và “tổ chức công bố, phát hành rộng rãi các văn bản, các quy định, chủ trương do Ủy ban nhân dân thành phố, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố ban hành liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng và nghĩa vụ của công dân trên địa bàn thành phố”.

b) Tại Điều 8 (Mục 8.3) của Quyết định số 52/2002/QĐ-UB ngày 21 tháng 05 năm 2002 về việc đổi tên và ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Trung tâm Thông tin và Đăng ký Nhà đất thành phố Hồ Chí Minh quy định: “Tổ chức, cá nhân được cung cấp thông tin, tư liệu địa chính – nhà đất phải trả một khoản tiền cho công việc này. Mức thu được thực hiện theo quy định tại Nghị định số 10/2002/NĐ-CPngày 16/01/2002 của Chính phủ về chế độ tài chính áp dụng cho đơn vị sự nghiệp có thu”.

Quy định này có dấu hiệu không phù hợp với Điểm g Điều 17 của Luật tiếp cận thông tin (Thông tin phải được công khai): “thông tin về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; giá đất; thu hồi đất; phương án bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định cư liên quan đến dự án, công trình trên địa bàn”. Đồng thời, thông tin, tư liệu địa chính-nhà đất không thuộc trường hợp thông tin không được tiếp cận theo quy định tại Điều 6 và thuộc trường hợp thông tin được tiếp cận tại Điều 5 Luật tiếp cận thôn tin năm 2016.

Khoản tiền phải trả cho việc cung cấp thông tin, tư liệu địa chính-nhà đất hiện không thuộc đối tượng của Luật Giá năm 2012 do Khoản 12 Điều 4 quy định: “Giá thành toàn bộ của hàng hoá, dịch vụ là giá thành tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ, bao gồm: a) Giá thành sản xuất hàng hóa, dịch vụ; giá mua hàng hoá, dịch vụ đối với tổ chức, cá nhân hoạt động thương mại; b) Chi phí lưu thông để đưa hàng hoá, dịch vụ đến người tiêu dùng” do thông tin, tư liệu địa chính-nhà đất không phải là hàng hóa, dịch vụ trong hoạt động thương mại.

Đồng thời, khoản tiền này cũng không thuộc đối tượng của Luật phí và lệ phí năm 2015, cụ thể Điều 3 quy định: “Phí là khoản tiền mà tổ chức, cá nhân phải trả nhằm cơ bản bù đắp chi phí và mang tính phục vụ khi được cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập và tổ chức được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao cung cấp dịch vụ công được quy định trong Danh mục phí ban hành kèm theo Luật này; Lệ phí là khoản tiền được ấn định mà tổ chức, cá nhân phải nộp khi được cơ quan nhà nước cung cấp dịch vụ công, phục vụ công việc quản lý nhà nước được quy định trong Danh mục lệ phí ban hành kèm theo Luật này”. Qua rà soát, khoản tiền phải trả cho việc cung cấp thông tin, tư liệu địa chính-nhà đất hiện không nằm trong Danh mục phí và Danh mục lệ phí ban hành kèm theo Luật phí và lệ phí năm 2015.

Trường hợp này, Điều 8 (Mục 8.3) của Quyết định số 52/2002/QĐ-UB không còn phù hợp với Khoản 1 Điều 12 Luật Tiếp cận thông tin: “1. Công dân được cung cấp thông tin không phải trả phí, lệ phí, trừ trường hợp Luật khác có quy định”; “2. Người yêu cầu cung cấp thông tin phải trả chi phí thực tế để in, sao, chụp, gửi thông tin”.

c) Một số quy định có liên quan đến việc công bố, công khai thủ tục hành chính thuộc trách nhiệm của Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp tại các Quyết định số 32/2015/QĐ-UBND, Quyết định số 10/2016/QĐ-UBND, Quyết định số 26/2014/QĐ-UBND, Quyết định số 42/2015/QĐ-UBND là phù hợp với quy định của Luật tiếp cận thông tin năm 2016, tuy nhiên không còn phù hợp với Nghị định số 92/2017/NĐ-CP ngày 07 tháng 08 năm 2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định liên quan đến kiểm soát thủ tục hành chính (gọi tắt là Nghị định số 92/2017/NĐ-CP).

Theo đó, tại Khoản 2 Điều 3 (sửa đổi bổ sung một số điều, khoản của Nghị định số 24/2014/NĐ-CP ngày 04 tháng 4 năm 2014 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương) và Khoản 2 Điều 4 (sửa đổi, bổ sung một số điều, khoản của Nghị định số 37/2014/NĐ-CP ngày 05 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh) thì chức năng kiểm soát thủ tục hành chính ở cấp tỉnh được chuyển giao cho Văn phòng Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, ở cấp huyện được chuyển giao cho Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp huyện.

Một số văn bản quy phạm pháp luật trong Danh mục rà soát theo chuyên đề này đã được Sở Tư pháp rà soát và trình Ủy ban nhân dân Thành phố ban hành Quyết định số 779/QĐ-UBND ngày 28 tháng 02 năm 2018 về sửa đổi, bổ sung Quyết định số 5068/QĐ-UBND ngày 15 tháng 10 năm 2014 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố về việc công bố kết quả hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật kỳ đầu đối với văn bản quy phạm quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân thành phố ban hành (trong kỳ hệ thống hóa ngày 31 tháng 12 năm 2013), tuy nhiên các đơn vị chưa trình kết quả xử lý, gồm:

– Quyết định số 905/1998/QĐ-UB-NCVX ngày 23 tháng 02 năm 1998 quy định về quản lý nhà nước đối với Báo chí trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh

– Quyết định số 290/2003/QĐ-UB ngày 09 tháng 12 năm 2003 về ban hành Quy định công bố công khai các Dự án đầu tư trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

– Quyết định số 46/2011/QĐ-UBND ngày 12 tháng 7 năm 2011 ban hành Quy chế phối hợp quản lý nhà nước đối với các khu chế xuất và khu công nghiệp trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

– Chỉ thị số 23/2011/CT-UBND ngày 12 tháng 7 năm 2011 về quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa vật liệu xây dựng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

– Chỉ thị số 31/2011/CT-UBND ngày 05 tháng 10 năm 2011 về tăng cường công tác quy hoạch kinh tế-xã hội, quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực, sản phẩm chủ yếu trên địa bàn Thành phố

– Quyết định số 51/2012/QĐ-UBND ngày 19 tháng 11 năm 2012 ban hành Quy định về việc xây dựng và công bố một số chỉ số đánh giá thị trường bất động sản trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh

2.2. Ở góc độ tổng thể, Sở Tư pháp nhận thấy, quy định của Luật tiếp cận thông tin năm 2016 đã có bước thay đổi về căn bản trong hoạt động của các cơ quan nhà nước, theo đó, công dân được quyền tự do tiếp cận thông tin của cơ quan nhà nước (ngoại trừ các thông tin không được tiếp cận và được tiếp cận có điều kiện các thông tin theo Điều 7), đồng thời, các cơ quan nhà nước có trách nhiệm cung cấp thông tin, bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho công dân (Chương IV) chứ không chỉ thực hiện việc công khai thông tin như các quy định trước đây.

Qua rà soát, các văn bản quy phạm pháp luật của Thành phố gần như chỉ quy định trách nhiệm của các cơ quan trong việc công bố, công khai một số thông tin hoặc chỉ phải thực hiện cung cấp thông tin hạn chế trong một số lĩnh vực mà pháp luật chuyên ngành có quy định.

Ngoài ra, Nghị định số 13/2018/NĐ-CP còn quy định những biện pháp mới trước đây chưa được triển khai thực hiện hoặc chưa được thể hiện trong các văn như quy định về các biện pháp tạo điều kiện thuận lợi cho người khuyết tật thực hiện quyền tiếp cận thông tin (Điều 3); quy định về trang bị phương tiện, kỹ thuật, cơ sở vật chất cho việc cung cấp thông tin (Điều 9); quy định việc xây dựng Chuyên mục về tiếp cận thông tin thuộc Cổng thông tin điện tử, Trang thông tin điện tử (Điều 11). Đây là những nội dung quy định mới mà các văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân Thành phố cần phải đề cập đến nhưng chưa được quy định vì hầu hết được ban hành trước khi Nghị định này ra đời. Do đó, những nội quy nêu trên, các đơn vị căn cứ chức năng, nhiệm vụ của đơn vị mình chủ động tổ chức triển khai theo quy định hiện hành, đề xuất điều chỉnh, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật của Thành phố (nếu cần thiết).

III. KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT:

Từ đánh giá kết quả rà soát tại Phần II của báo cáo, Sở Tư pháp có một số kiến nghị, đề xuất như sau:

1. Về chủ trương:

Do hầu hết các văn bản của Thành phố ban hành trước ngày Luật và Nghị định ra đời, nội dung quy định không đề cập trực tiếp đến vấn đề tiếp cận thông tin, do đó, Sở Tư pháp đề xuất chưa xem xét việc sửa đổi, bổ sung, điều chỉnh hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Thành phố để tránh xáo trộn không cần thiết (ngoại trừ một số văn bản kiến nghị tại Mục 2 dưới đây).

Đồng thời quy định của Luật tiếp cận thông tin (Khoản 5 Điều 35) và Nghị định của Chính phủ không phân cấp thẩm quyền cho cấp tỉnh trong việc quy định chi tiết hoặc các biện pháp thi hành luật, nghị định, vì vậy, các đơn vị cần cân nhắc trong việc xây dựng, trình ban hành các nội dung liên quan đến vấn đề tiếp cận thông tin dưới hình thức văn bản quy phạm pháp luật. Các vấn đề có liên quan đến quyền tiếp cận thông tin của người dân sẽ được thực hiện theo đúng quy định của Luật và Nghị định hướng dẫn thi hành.

Trước mắt, đề nghị Ủy ban nhân dân Thành phố chỉ đạo các đơn vị triển khai thực hiện các nhiệm vụ theo Kế hoạch triển khai thi hành Luật tiếp cận thông tin trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh (ban hành kèm theo Quyết định số 5812/QĐ-UBND ngày 04 tháng 11 năm 2016) và theo hướng dẫn của Bộ Tư pháp tại tại Công văn số 939/BTP-PLHSHC ngày 22 tháng 3 năm 2018 về đôn đốc việc triển khai thi hành Luật tiếp cận thông tin.

Trong đó các đơn vị chú trọng tăng cường tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho người dân về quyền tiếp cận thông tin để người dân được biết và thực hiện quyền của mình; xây dựng và ban hành quy chế nội bộ của từng cơ quan để thực hiện việc cung cấp thông tin theo quy định (lưu ý Sở Thông tin và Truyền thông sớm tham mưu ban hành quy chế mẫu để các đơn vị tham khảo, thực hiện thống nhất); tổ chức duy trì, nâng cấp trang thông tin điện tử của các cơ quan; bố trí, kiện toàn, tổ chức tập huấn cho cán bộ làm công tác đầu mối cung cấp thông tin và tổ chức triển khai, thực hiện việc cung cấp thông tin theo đúng quy định.

Trong quá trình triển khai thực hiện, kịp thời báo cáo những khó khăn, vướng mắc về Ủy ban nhân dân Thành phố để có chỉ đạo, đồng thời thông qua cơ chế theo dõi tình hình thi hành pháp luật để kịp thời kiến nghị đến các cơ quan có thẩm quyền (Chính phủ) ban hành theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 35 Nghị định số 13/2018/NĐ-CP.

2. Đối với một số văn bản cần sửa đổi, điều chỉnh (Phụ lục II), gồm:

2.1. Quyết định số 20/2016/QĐ-UBND ngày 09 tháng 6 năm 2016: Nội dung quyết định này không còn phù hợp với Luật tiếp cận thông tin và cũng không còn phù hợp với Nghị định số 92/2017/NĐ-CP do Văn phòng Ủy ban nhân dân Thành phố nay đảm nhiệm chức năng kiểm soát thủ tục hành chính. Qua theo dõi, Sở Tư pháp nhận thấy Quyết định số 20/2016/QĐ-UBND được nhiều lần kiến nghị trong các báo cáo kiểm tra văn bản và báo cáo rà soát theo chuyên đề, đồng thời được Bộ Tư pháp và Bộ Nội vụ có kết luận về một số nội dung trái pháp luật. Do đó, việc nghiên cứu, sửa đổi toàn diện Quyết định số 20/2016/QĐ-UBND là cần thiết.

2.2. Quyết định số 52/2002/QĐ-UB ngày 21 tháng 05 năm 2002 về việc đổi tên và ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Trung tâm Thông tin và Đăng ký Nhà đất thành phố Hồ Chí Minh, qua rà soát, Sở Tư pháp phát hiện có nội dung chưa phù hợp với Luật tiếp cận thông tin, đồng thời, Quyết định này cũng không còn phù hợp với các quy định hiện hành. Sở Tư pháp kiến nghị Ủy ban nhân dân Thành phố giao Sở Tài nguyên và Môi trường tiếp tục rà soát, tự kiểm tra để đề xuất hình thức xử lý thích hợp.

2.3. Các Quyết định số 32/2015/QĐ-UBND, Quyết định số 10/2016/QĐ-UBND, Quyết định số 26/2014/QĐ-UBND, Quyết định số 42/2015/QĐ-UBND về cơ bản phù hợp với Luật tiếp cận thông tin nhưng một số nội dung không còn phù hợp với quy định của Nghị định số 92/2017/NĐ-CP của Chính phủ.

Hiện nay, Sở Tư pháp đang chủ động triển khai xây dựng Dự thảo quyết định sửa đổi, bổ sung Quyết định số 32/2015/QĐ-UBND và Quyết định số 10/2016/QĐ-UBND (đang giai đoạn lấy ý kiến góp ý). Tuy nhiên, Quyết định số 26/2014/QĐ-UBND, Quyết định số 42/2015/QĐ-UBND chưa được chỉ đạo nghiên cứu, sửa đổi. Do đó, Sở Tư pháp kiến nghị Ủy ban nhân dân Thành phố giao Văn phòng Ủy ban nhân dân Thành phố (Phòng Kiểm soát Thủ tục hành chính) chủ trì, phối hợp với Sở Nội vụ sớm xây dựng dự thảo Quyết định sửa đổi, bổ sung Quyết định số 26/2014/QĐ-UBND, Quyết định số 42/2015/QĐ-UBND.

2.4. Đối với các văn bản quy phạm pháp luật trong Danh mục rà soát đã được Ủy ban nhân dân Thành phố chỉ đạo xử lý theo Quyết định số 779/QĐ-UBND ngày 28 tháng 02 năm 2018 (được nêu tại Điểm c Mục 2 Phần III của báo cáo này), đề nghị các đơn vị liên quan rà soát lại và sớm tham mưu văn bản xử lý theo chỉ đạo của Ủy ban nhân dân Thành phố.

3. Đối với Ủy ban nhân dân các quận, huyện:

Trên cơ sở kết quả rà soát các quy định của Thành phố về Luật tiếp cận thông tin có liên quan đến cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân quận, huyện (Phụ lục III), Sở Tư pháp đề nghị Ủy ban nhân dân quận huyện chủ động rà soát, kiến nghị các nội dung cần sửa đổi, bổ sung (nếu có) về Sở Tư pháp. Đồng thời chủ động tổ chức rà soát các văn bản quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân quận, huyện, phường, xã ban hành có liên quan đến quyền tiếp cận thông tin của công dân, chú trọng các nội dung quy định có thể gây cản trở, giới hạn quyền tự do tiếp cận thông tin để tự kiểm tra, xử lý theo quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận, huyện chỉ đạo các đơn vị tổ chức triển khai thực hiện các nhiệm vụ theo Kế hoạch triển khai thi hành Luật tiếp cận thông tin trên địa bàn Thành phố trên địa bàn quận, huyện.

Trên đây là báo cáo của Sở Tư pháp (đính kèm các Phụ lục)./.

Nơi nhận:

– UBND.TP (để báo cáo);

– VP.UBND.TP (Phòng KSTTHC);

– Sở Thông tin và Truyền thông;

– Sở Tài nguyên và Môi trường;

– Sở Nội vụ;

– Lưu: VT-KTrVB.

KT.GIÁM ĐỐC

PHÓ GIÁM ĐỐC

Lê Đức Thanh

2. Báo cáo kết quả rà soát văn bản quy phạm pháp luật số 2

I. TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CÔNG TÁC NĂM ………….

1. Công tác chỉ đạo, điều hành và các điều kiện đảm bảo cho công tác kiểm tra tra, xử lý, rà soát, hệ thống hóa văn bản QPPL

1.1. Công tác xây dựng thể chế về công tác kiểm tra, xử lý, rà soát, hệ thống hóa văn bản QPPL (Tình hình xây dựng Quy chế về kiểm tra, xử lý văn bản QPPL, Quy chế về rà soát, hệ thống hóa văn bản QPPL, xây dựng kế hoạch hàng năm…);

1.2. Về tổ chức bộ máy, biên chế; kinh phí; cộng tác viên; công tác xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản QPPL;

1.3. Công tác tập huấn, hướng dẫn, bồi dưỡng kỹ năng, nghiệp vụ.

2. Về công tác kiểm tra, xử lý văn bản QPPL

2.1. Số liệu văn bản QPPL do bộ, cơ quan ngang bộ, HĐND, UBND cấp tỉnh ban hành đã được tự kiểm tra và xử lý;

2.2. Số liệu văn bản kiểm tra theo thẩm quyền đã được gửi đến để kiểm tra và thực tế đã kiểm tra; đã phát hiện có nội dung trái pháp luật (về nội dung, về thẩm quyền ban hành; các sai khác về: căn cứ pháp lý, hiệu lực, thể thức, kỹ thuật trình bày văn bản) và yêu cầu cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản xem xét, xử lý; số văn bản đã được xử lý theo yêu cầu của cơ quan kiểm tra văn bản, đã xử lý theo thẩm quyền.

(Danh mục văn bản trái pháp luật về thm quyền, nội dung đã được phát hiện qua công tác tự kiểm tra và kiểm tra theo thẩm quyền tại Bộ, cơ quan ngang Bộ, UBND cấp tỉnh gửi kèm theo Báo cáo).

Đối với các Bộ, cơ quan ngang Bộ cần có đánh giá về việc phối hợp của tổ chức pháp chế các bộ, cơ quan ngang bộ trong việc tự kiểm tra và kiểm tra văn bản theo thẩm quyền các văn bản thuộc lĩnh vực hoạt động của cơ quan thuộc Chính phủ;

2.3. Công tác kiểm tra theo địa bàn, chuyên đề, ngành, lĩnh vực;

2.4. Đánh giá tình hình thực hiện công tác kiểm tra, xử lý văn bản năm …………. (ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân).

3. Về công tác rà soát, hệ thống hóa văn bản QPPL

3.1. Số liệu về văn bản phải rà soát, số văn bản đã được rà soát, kết quả rà soát văn bản, tình hình xử lý văn bản được rà soát (căn cứ rà soát văn bản phát sinh trong năm ………….);

3.2. Kết quả rà soát văn bản theo chuyên đề, lĩnh vực, địa bàn (nếu có);

3.3. Kết quả hệ thống hóa văn bản (nếu có);

3.4. Tình hình công bố Danh mục văn bản QPPL hết hiệu lực, ngưng hiệu lực trong năm …………. theo quy định tại Điều 157 Nghị định số 34/…………./NĐ-CP (trong đó nêu rõ tổng số văn bản hết hiệu lực, ngưng hiệu lực toàn bộ; văn bản hết hiệu lực, ngưng hiệu lực một phần );

3.5. Đánh giá chung về chất lượng công tác xây dựng, ban hành văn bản thuộc trách nhiệm rà soát, hệ thống hóa;

3.6. Đánh giá tình hình thực hiện công tác rà soát, hệ thống hóa văn bản QPPL, hoạt động phối hợp trong công tác này trong năm …………. (ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân).

II. KHÓ KHĂN, VƯỚNG MẮC, KIẾN NGHỊ

…………………………………………………………………………………

Ghi chú: Ngoài các nội dung nêu trên, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, UBND cấp tỉnh có thể thông tin thêm về các vấn đề khác có liên quan đến công tác kiểm tra, xử lý, rà soát, hệ thống hóa văn bản QPPL tại Bộ, ngành, địa phương mình nếu thấy cần thiết.

Mời bạn đọc cùng tham khảo thêm tại mục thủ tục hành chính trong mục biểu mẫu nhé.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button